Viêm phổi tròn đôi khi gây ra nốt phổi đơn độc, chiếm dưới 1% “tổn thương hình đồng xu” và được báo cáo lần đầu tiên trong y văn X quang vào năm 1954. Ung thư phổi là nhóm bệnh được thường được bác sĩ lâm sàng và X quang nghĩ nhiều nhất khi đối diện với tổn thương hình đồng xu (hình 1), vì carcinoma có khả năng gây tử vong cao nhất và tương đối thường gặp. Ở nhiều bệnh nhân, cần chụp CT ngực và sau đó đôi khi phải sinh thiết qua da hoặc qua nội soi phế quản.
Viêm phổi tròn nói chung thường gặp ở trẻ em và ít được báo cáo ở người lớn. Chẩn đoán cần được đặt ra ở bệnh nhân trẻ có hình ảnh lâm sàng viêm phổi điển hình. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã ước lượng rằng, viêm phổi tổ chức hoá có thể chiếm đến 10% các trường hợp viêm phổi và tần suất có thể tăng lên theo sự tăng sử dụng kháng sinh. Điều quan trọng là cần nhận biết bệnh này vì bệnh sử ho hoặc sốt có thể không có hoặc xa với thời điểm biển hiện, làm khó chẩn đoán.
Các dấu hiệu lâm sàng
Các triệu chứng lâm sàng của viêm phổi tròn có thể nhẹ, giống như hội chứng virus hoặc viêm phế quản. Một số bệnh nhân bị viêm phổi tròn không có triệu chứng lúc ban đầu, mặc dù khám lâm sàng cẩn thận có thể thấy bệnh sử ho và sốt nhẹ 1 tuần hoặc hơn trước khi biểu hiện bệnh. Bệnh nhân có thể được điều trị bằng kháng sinh dựa và triệu chứng mà không có chụp x quang ngực, có thể giải thích sự khác biệt giữa tần suất ước lượn gcủa viêm phổi tròn và số các trường hợp các bác sĩ X quang thấy được. Ngoài ra, bác sĩ x quang thiếu dữ liệu lâm sàng có thể dẫn đến việc bác sĩ lâm sàng là người duy nhất biết được chẩn đoán cuối cùng.
X quang ngực
Đặc điểm X quang của viêm phổi tròn ở người lớn thay đổi. Hình ảnh chung có thể ở phạm vi từ khối mờ nhỏ đến lớn, hình tròn, giới hạn kém rõ (hình 2). Tổn thương của viêm phổi tròn không nhất thiết hình tròn; có thể thấy tổn thương hình oval. Bờ có thể trơn láng trên X quang, đôi khi có múi hoặc có thể không đều hoặc có gai. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, hầu hết các tổn thương trơn láng hoặc không đều nhẹ. Sự hiện diện hình phế quản đồ (air bronchogram) trên hình X quang ngực có thể làm cho người đọc hướng chần đoán về bệnh lý nhiễm trùng, nhưng trong 1 nghiên cứu chỉ có 17 % bệnh nhân viêm phổi tròn có hình phế quản đồ. Thật ra thì hình phế quản đồ cũng có thể thấy trên X quang và CT ở bệnh nhân bị carcinoma tuyến và carcinoma phế quản – phế nang. Vì vậy, hình phế quản đồ không đặc trưng cho cả hai nhóm bệnh này. Viêm phổi tròn thường ở thùy dưới. Tổn thương thuỳ trên cần được nghi ngờ, ngay cả khi có triệu chứng gợi ý nhiễm trùng.
Viêm phổi tròn được nghĩ là do biểu hiện sớm của bệnh từ một ổ nhiễm trùng lan kiểu ly tâm, hoặc bằng cách đi qua các lỗ Kohn hoặc ống Lambert, hoặc bằng cách phá huỷ thành phế nang xung quanh. Một giả thuyết khác cho rằng viêm phổi tròn xảy ra ở trẻ em vì các lỗ Kohn chưa phát triển và không có ống Lambert làm hạn chế sự lan của vi sinh vật dẫn đến khối tròn, ổ thấy trên X quang và CT. Giả thuyết này cũng có thể giải thích tại sao viêm phổi tròn thường ít gặp hơn ở người lớn, có ống Lambert phát triển đầy đủ. Giai đoạn tạo hình tròn cũng có thể thấy khi viêm phổi lan toả thuyên giảm chậm, gợi ra quá trình bệnh lý thứ phát (hình 4).
X quang ngực có thể giúp ích khi có phim so sánh tương đối mới với các dấu hiệu bình thường. Khối 2-3cm xuất hiện trong vòng 2-6 tuần sau thường có lẽ là nhiễm trùng hơn là u.

Hình 1. Bệnh nhân nam 38 tuổi sốt và ho. A và C. Hình A thế chụp AP và hình B nghiêng, thấy một khối tròn giới hạn rõ ở phân thùy trên của thùy dưới phải. Khối có múi. Thuyên giảm sau khi điều trị kháng sinh.

Hình 2. Nam 39 tuổi sốt và bạch cầu cao. Hình A và B, A phim thẳng và B, phim nghiêng thấy một khối tròn giới hạn kém rõ ở thùy dưới phổi phải không có hình phế quản đồ. X quang ngực 3 tuần sau thấy bình thường.

Hình 3. Nam 54 tuổi, mệt mỏi và đau chói ngực. A X quang ngực có khối hình oval ở thùy dưới phải. Khối tăng đậm độ bờ gai thấy trên CT, không có hình phế quản đồ và phản ứng màng phổi. Viêm phổi tròn được chẩn đoán bằng sinh thiết và cấy đàm có Staphyloccocus pneumonea. Sau hai tuần điều trị kháng sinh, chụp CT theo dõi thấy bình thường.

Hình 4. Nam 53 tuổi nhập khoa cấp cứu với thở nông dần, sốt, ho đàm, ớn lạnh.
A Hình X quang đầu tiên thấy viêm phổi lan tỏa thùy dưới hai phổi. Bệnh nhân
CT
Khi thấy trên CT, viêm phổi tròn gồm khối có đậm độ mô mềm không đồng nhất, có thể có gai (hình 5), hình phế quản đồ, dày màng phổi và các tổn thương vệ tinh, mặc dù hai dầu hiệu sau dường như giúp ích nhiều nhất cho chẩn đoán. Một nghiên cứu thấy rằng, trên CT, 94% viêm phổi tròn có bờ không đều và 22% có gai thô. Tuy nhiêu gai này không thấy trên phim X quang tương ứng, có thể do CT có độ phân giải không gian cao hơn. Kyriyama và cs. thấy hình phế quản đồ ngoại biên ở 65% bệnh nhân có nốt ác tính so với 5% lành tính, làm cho các nhà nghiên cứu này nghĩ là hình phế quản đồ chứng tỏ bệnh lý ác tính. Ziwievich và cs. cũng thấy hình phế quản đồ gặp ở nốt phổi ác tính (85%) hơn lành tính (55%), nhưng Kohno và cs. thầy hình phế quản đồ trên CT ở 50% trường hợp viêm phổi tròn. Vì vậy, có hay không có hình phế quản đồ không giúp phân biệt giữa ác tính và viêm phổi tròn. Dày màng phổi đi kèm hiện diện khi viêm phổi tròn tiếp giáp với bề mặt màng phổi (hình 6), có lẽ do liên quan với phản ứng viêm nhưng không thâấ ở tổn thương ở trung tâm. Kohno và cs đã báo cáo rằng, chỉ có các dâu hiệu CT giúp chẩn đoán viêm phổi tròn là tổn thương vệ tinh thấy ở 65% bệnh nhân và tổn thương đáy rộng tiếp xúc với bề mặt màng phổi.

TÓM LẠI
Viêm phổi tròn, một nguyên nhân lành tính của các tổn thương hình đồng xu thấy trên X quang ngực, thường khó phân biệt với carcinoma nguồn gốc phế quản. Mặc dầu tương đối ít gặp ở người lớn, bệnh này cũng có thể thấy hầu hết trong thực hành X quang và có thể dẫn đến chụp CT và sinh thiết.
CAO THIÊN TƯỢNG
Nguồn AJR:170, March, 1998
round-pneumonia
Bạn hãy đăng nhập để viết lời bình cho bài Blog này.