Blog trước | Blog sau

khái niệm là gì ? ,các đặc trưng của khái niem (KN) quan hệ Nội hàm và Ngoại diên :D Viết lúc 5:45 chiều 30/01/2012

CÂU 1 : khái niệm là gì ? ,các đặc trưng của khái niemj (KN)
-Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng ,phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng.
-Mỗi sự vật hiện tượng đều bao gồm nhiều thuộc tính,KN chỉ phản ánh những thuộc tính bản chất.
VD : KN ghế :vật dc làm ra ,dùng để ngồi.
+mỗi sự vật đc gọi là ghế đều có thuộc tính về màu sắc ,về chất liệu ,về hình dáng.về kích thước.....song đó là những thuộc tính riêng biệt ,không bản chất.
+ KN ghê chỉ phản ánh những thuộc tính abnr chất của tất cả những cái ghế trong hiện thực ,đó là " vật được làm ra " ," dùng để ngồi " 
=> KN là 1 hình thức của tư duy phản ánh những thuộc tính bản chất ,những thuộc tính chung nhất của 1 nhóm sự vật trong thế giới khách quan.

CÂU 2

.-Nội hàm của KN là nội ung hiểu biết hàm chứa trong KN ,là tổng hợp của những hiểu biết khác nhat trong tư duy phản ánh bản chất của đối tượng.
VD : KN cá có nội hàm là : động vật có xương sống ,sống dưới nước ,thở bằng mang,
Nội hàm của KN ,cá là tổng hợp các thuốc tính bản chất của mọi con cá .
+ ý nghĩa của KN do chính nội hàm của KN đó qui định
+ Nội hàm của KN biểu th9ij mặt chất của KN ,nó trả lời cho câu hỏi :
. đối tượng mà KN đó phản ánh là cái gì ?
. Nó như thế nào ?
. các yếu tố nào cấu thành nên nó ?
. nó hoạt động ra sao ?
. chịu sự chi phối của những quy luật gì ?
- Tùy thuộc vào mức độ phát triển của đối tượng , mức độ phát triển của thực tiễn ,vào trình độ ,năng lực nhận thức của chủ thể mà nọi hàm kN phong phú hay nghèo nàn ,nông hay sâu ,xa hay gần chân ký khách quan.
* Ngoại diên của KN
-ngoại diên của KN là tập hợp tất cả các đối tượng có các dấu hiêu chung đc phản ánh trong KN
=ngoại diên của KN biểu thị mặt lượng của KN nó trả lời cho câu hỏi : lớp các đối tượng mà KN đó phản ánh có bao nhiêu ?
-với mỗi KN có thể lập 1 hàm phán đoán tương ứng ; Ngoại diên là tập hợp tất cả các đối tượng mà kh thay bào biến thì làm cho hàm phán đoán thành phán đoán đúng
VD : xét KN "thành phố" .ta lập hàm phán đoán tương ứng . x là thành phố.
x = nha trang => nha trang là thành phố => đúng 
=> nha trang thuộc ngoại diên KN thành phố
x = bến tre => bến tre là thành phố => sai
=> bến tre k thuộc ngoại diên KN thành phố.
-ngoại diên của LN có thể là 1 tập hợp vô hạn ,gồm vố ố các đối tượng , VD : KN ngôi sao .
-cũng có thể là 1 tập hợp hữu hạn ,có thể liệt kê hết đc các đối tượng : VD : KN thành phố .
-cũng có KN mà ngoại diên chỉ bao gồm 1 đối tượng : VD: KN sông hồng
-cũng có KN mà ngoại diên k có phần tử nào ,ta gọi đó là KN "rỗng" : VD: thuốc trường sinh .

**Quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên của KN 
-Nội hàm và ngoại diên của KN liên hệ chặ chẽ vs nhau,biểu thị tư tưởng thống nhất phản ánh tập hợp đối tượng có dấu hiệu cơ bản chung.
-sự tương quan giữa nội hàm và ngoại diên của KN có tính chất tỷ lệ nghịch.Nếu ngoại diên của 1 KN càng nhiều đối tượng bao nhiêu thì Nội hàm của nó càng nghèo nàn bấy nhiêu và ngược lại 
VD : KN sinh viên :có nội hàm nghèo nhất ,nhưng ngọa diên lại rộng nhất 
+ còn KN sinh viên trg DH TN và MT lại có nội hàm rộng hơn ,nhưng ngoại diên lại hẹp hơn.
-Như vậy lượng thông tin về sự vật chứa trong KN càng ít thì lớp sự vật càng rộng và thành phần của nó càng khó xác định, ngược lại ,lượng thông tin trong KN càng nhiều thì phạm vi sự vật càng ít và cũng dễ xác định.

Câu 3: Phép định nghĩa khái niệm là gì? kết cấu của một phép định nghĩa khái niệm? các quy tắc định nghĩa khái niệm?

TL:

- Phép định nghĩa khái niệm là: thao tác logic nhằm vạch ra những dấu hiệu nội hàm cơ bản của khái niệm

Cần định nghĩa khái niệm trong những trường hợp sau:

  1. Tổng kết điểm chủ yếu sau quá trình nhận thức bản chất của đối tượng.
  2. Khi sử dụng khái niệm mà người khác chưa biết nội hàm
  3. Khi sử dụng những từ đã biết nhưng lại được dùng ở nghĩa mới.

- Kết cấu của mọt phép định nghĩa khái niệm gồm: Khái niệm được định nghĩa và khái niệm  dùng để định nghĩa.

Khái niệm được định nghĩa: là khái niệm mà ta phải vạch rõ nội hàm cơ bản của nó ra

Khái niệm dùng để định nghĩa: là khái niệm có những dấu hiệu chung và cơ bản cấu thành nội hàm của khái niệm được định nghĩa.

Mối liên hệ logic giữa khái niệm được định nghĩa và khái niệm dùng để định nghĩa được thể hiện nhờ từ “là” hay dấu gạch ngang.

- Các quy tắc định nghĩa khái niệm:

1. Định nghĩa cân đối: ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa phải phù hợp với ngoại diên của khái niệm được định nghĩa.

Định nghĩa cân đối thể hiện mối quan hệ đồng nhất giữa khái niệm được định nghĩa và khái niệm dùng để định nghĩa.

2. Không được định nghĩa vòng quanh: đây là kiểu định nghĩa trong đó khái niệm dùng để định nghĩa lại được xác định nội hàm thông qua khái niệm cần định nghĩa, hoặc nội hàm của khái niệm cần định nghĩa lại được giải thích thông qua những khái niệm khác mà nội hàm còn chưa rõ ràng.

3. Tránh dùng mệnh đề phủ định trong định nghĩa: nếu dùng mệnh đề phủ định để định nghĩa (A là không B) thì trong nhiều trường hợp không làm rõ nội hàm của khái niệm được định nghĩa, mà mới chỉ dùng lại ở mức độ nhấn mạnh nó không có những dấu hiệu này hay khác mà thôi.

4. Định nghĩa phải tường minh, rõ ràng, chính xác: yêu cầu những thuật ngữ dùng trong định nghĩa phải ngắn gọn, rõ nghĩa, tránh dùng những từ ngữ mập mờ, đa nghĩa, hoặc những từ ví von, so sánh dễ gây hiểu lầm về đối tượng được định nghĩa.

Câu 4: Phép phân chia khái niệm là gì? kết cấu của phép phân chia khái niệm? các quy tắc của phép phân chia khái niệm?

TL:

- Phép phân chia khái niệm là: thao tác logic nhằm vào ngoại diên của khái niệm để vạch ra ngoại diên của các khái niệm chủng trong khái niệm loại theo một căn cứ xác định.

Cần phân chia khái niệm trong 3 trường hợp:

  1. Khi vạch ra không chỉ bản chất tư duy mà còn cả hình thức thể hiện và bản chất của nó.
  2. Khi người đối thoại không rõ lĩnh vực ứng dụng của khái niệm.
  3. Khi sử dụng đồng âm khác nghĩa, chỉ ra các nghĩa của nó về thực chất đã là phân chia khái niệm.

-Cấu tạo của phép phân chia khái niệm gồm 3 bộ phận:

1. Khái niệm bị phân chia: là khái niệm loại mà từ đó ta vạch chỉ ra các khái niệm chủng chứa trong nó (kí hiệu là A)

2. Cơ sở phân chia: là căn cứ, dấu hiệu mà dựa vào đó ta chia khái niệm loại ra thành các khái niệm chủng. khi thực hiện phân chia khái niệm cần chú ý là việ cần chọn lựa cơ sở của nó sẽ quyết định giá trị khoa học và thực tiễn của phép phân chia.

3. Các khái niệm chủng thành phần: là các khái niệm thu được sau khi phân chia (kí hiệu là A1, A2,..., An)

- Quy tắc của phép phân chia khái niệm:

1. phân chia phải cân đối: ngoại diên của khái niệm bị phân chia phải bằng tổng ngoại diên của các khái niệm sau khi bị phân chia.   A= A1+ A2 +A3 +...... +An.

Nếu không sẽ dẫn tới lỗi chia thiếu thành phần, chia thừa thành phần, vừa chia thừa vừa chia thiếu thành phần.

2. Phân chia phải cùng một cơ sở: Phải giữ nguyên căn cứ phân chia trong suốt quá trình phân chia.

3. Các khái niệm thu được sau khi phân chia phải ngang hàng: ngoại diên của chúng phải tách rời nhau. Ngược lại sẽ là vi phạm quy tắc này.

4. Phân chia phải liên tục: Khi phân chia thì phải từ khái niệm loại vạch ra các khái niệm chủng gần nhất. Nếu quy tắc này vi phạm sẽ mắc lỗi phân chia nhảy vọt.

 

Câu 5: Phán đoán là gì?

TL:

Phán đoán là: hình thức cơ bản của tư duy phản ánh sự tồn tại hay không tồn tại của một thuộc tính hay một mối liên hệ nào đó. Về thực chất phán đoán được hình thành trên cơ sở liên kết các khái niệm với nhau để khẳng định hay phủ định sự tồn tại của một đối tượng, thuộc tính hay những mối liên hệ của nó.

Một phán đoán chỉ có một và một giá trị đúng hoặc sai. không tồn tại phán đoán nào vừa đúng lại vừa sai.

VD: “con gà là một loài động vật” đây là một phán đoán đúng

“ số 2 là một số lẻ” đây là phán đoán sai.

 

Câu 6: Thế nào là phán đoán đơn? Có mấy loại phán đoán đơn, phân tích cấu trúc của từng loại phán đoán đơn? xác định quan hệ giữa các phán đoán đơn qua hình vuông logic?

TL:

- Thế nào là phán đoán đơn: phán đoán được biểu thị dưới dạng một câu đơn thì ta gọi đó là “phán đoán đơn”.

Một phán đoán đơn gồm 4 bộ phận: chủ từ, vị từ, lượng từ và hệ từ.

VD: “chúa không tồn tại”

- Phán đoán đơn gồm 4 loại:

1. Phán đoán toàn thể khẳng định: mọi S là P (kí hiệu là A)

VD: “mọi loài chim đề biết bay”.

2. Phán đoán toàn thể phủ định: mọi S không là P (kí hiệu là E)

VD: “ không ai thich chiến tranh”

3. Phán đoán bộ khẳng định: tồn tại S là P (kí hiệu là I)

VD: “một số người thích chơi đàn ghi ta”

4. phán đoán  bộ phủ định: tồn tại S không là P (kí hiệu là O)

VD: “một số người không biết nói”

- mối quan hệ giữa các phán đoán đơn qua hình vuông logic:

“Vẽ hình vuông sau”

 

 

Các đỉnh hình vuông là các phán đoán đơn A, E, I, O. Còn các cạnh và đường chéo biểu thị quan hệ giữa chúng.

1. Quan hệ mâu thuẫn: là quan hệ giữa những phán đoán khác nhau cả về chất lẫn lượng. Mối quan hệ này thể hiện hai đường chéo của hình vuông, đó là quan hệ giữa hai cặp phán đoán: A&O, E&I. Chúng không thể cùng chân thực hoặc cùng giả dối, mà nhất thiết phải có một phán đoán chân thực, một phán đoán giả dối.

Giá trị logic của các phán đoán đơn trong quan hệ logic như sau

A= 1 => O= 0           O= 1 => A= 0

E= 1 => I= 0              I= 1 => E= 0

2. Quan hệ lệ thuộc: là quan hệ giữa những phán đoán giống nhau về chất, nhưng khác nhau về lượng. Đó là hai cặp phán đoán  A&I, E&O. Trong hai cặp này thì những phán đoán có lượng tòan thể gọi là phán đoán bậc trên (A&E), các phán đoán có lượng bộ phận là phán đoán bậc dưới (I&O).

Nếu phán đoán bậc trên chân thực thì phán đoán bậc dưới chân thực. Vì phán đoán bậc dưới là bộ phận của phán đoán bậc trên.

Nhưng nếu phán đoán bậc trên giả dối thì không thể suy ra phán đoán bậc dưới cũng giả dối. lúc này phán đoán logic bậc dưới bất định, no có thể chân thực hoặc giả dối, vì cái toàn thể giả dối không có nghĩa tất cả bộ phận bên trong nó đều giả dối.

Trường hợp phán đoán bậc dưới chân thực cũng vậy. Từ một bộ phận chân thực chưa thể xác định được cái toàn thể chân thực hay giả dối. nó có thể chân thực hoạc giả dối tùy vào đối tượng phản ánh cụ thể.

Trương hơp phán đoán bậc dưới giả dối thì suy ra phán đoán bậc trên giả dối. vì một bộ phận trong cái toàn thể giả dối thì không thể suy ra cái toàn thể chân thục được.

A = 1 => I = 1                   A = 0 => I = ?

I = 0 => A = 0                    I = 1 => A= ?

E = 1 => O = 0                   E = 0 => O = ?

O = 0 => E = 0                   O = 1 => E = ?

3. Quan hệ đối lập: là quan hệ giưa những phán đoán giống nhau về lượng nhưng khác nhau về chất. Đó là hai cặp phán đoán (A&E), (I&O).

Các phán đoán (A&E) nằm trong quan hệ đối lập trên. Chúng không thể cung chân thực, mà chỉ có thể cùng giả dối hoặc một chân thực, một giả dối.

A = 1 => E = 0           A = 0 => E = ?

E = 1 => A = 0           E = 0 => A= ?

Các phán đoán (I&O) nằm trong quan hệ đối lập dưới: chúng không thể cùng giả dối mà chỉ có thể cùng chân thực hoặc một chân thực, một giả dối.

I = 0 => O = 1            I = 1 => O = ?

O = 0 => I = 1            O = 1 => I = ?

 

Câu 7: Phán đoán phức là gì? có mấy loại phán đoán phức cơ bản? phân tích cấu trúc của từng phán đoán phức cơ bản đó?

TL:

- Phán đoán phức là: phán đoán được tạo thành từ các phán đoán đơn nhờ các liên kết logic. Nếu phán đoán logic chỉ gồm một loại liên từ logic thì đó là phán đoán phức cơ bản. Còn nếu gồm từ hai loại liên từ logic trở lên thì đó là  phán đoán đa phức hợp

VD: “sinh viên có thể chọn học tiếng anh hoặc tiếng pháp”

- Có 5 phán đoán phức cơ bản: phán đoán hội, phán đoán tuyển, phán đoán kéo theo, phán đoán tương đương, phán đón phủ định.

+ Phán đoán hội:là phán đoán phức phản ánh mối quan hej cùng tồn tại của các đói tượng hay thuộc tính được ghi nhận ở các phán đoán thành phần.

VD: “lao động là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân”

phán đoán trên bao gồm hai phán đoán: “lao đọng là quyền lợi của công dân” và “        lao động là nghĩa vụ của công dân”

Công thức tổng quát: Hab = a ^ b

Cấu trúc logic: (S1^S2) là P; S là (P1^P2). (S1^S2) là (P1^P2)

+ phán đoán tuyển: là phán đoán phức thể hiện mối quan hệ lựa chọn tồn tại giữa các đối tượng hoặc thuộc tính được phản ánh  trong các phán đoán thành phần, trong đó nhất thiết phải có một tồn tại.

Tuyển tương đối:   VD: “lợi nhuận tăng nhờ nâng cao năng suất lao động hoặc giảm chi phí sản xuất”

trong ví dụ này ta thấy một trong hai hiện tượng tồn tại hoặc cả hai hiện tượng cùng tồn tại.

Công thức tổng quát:  Tab = a v b

Cấu trúc logic:  (S1 V S2) là B, S là (P1 V P2). (S1 V S2) là (P1 VP2)

Phán đoán tuyển tuyệt đối: VD: “trong tam giác ABC, hoặc góc A vuông, hoặc góc B vuông, hoặc góc C vuông.

Nhìn vào ví dụ trên ta thấy tính chất của phép tuyển mạnh không có khả năng tất cả các phán đoán thành phần cùng đúng, và chỉ có 1 phán đoán thành phần đúng mà thôi.

Công thức tổng quát: Tab = a v b

Ngôn ngữ tự nhiên: hoặc, hoặc

+ Phép kéo theo: là phán đoán phức về cơ bản phản ánh mối quan hệ nhân quả giữa các đối tượng khách quan, trong đó có một nguyên nhân và thành phần còn lại là kết quả.

VD: “Nếu học tập chăm chỉ thì sẽ có kết quả thi tốt

Công thức tổng quát: Kab = a => b

Cấu trúc logic: (S1 ^ S2) => (P1 ^ P2)

Đặc trưng cơ bản của phép kéo theo là có nguyên nhân thì sẽ có kết quả. Một nguyên nhân có thể dẫn tới nhiều kết quả, và một kết quả cũng có thể do nhiều nguyên nhân.

+ Phán đoán tương đương: là phán đoán phức thể hiện quan hệ nhân quả hai chiều giữa các đối tượng, trong đó đối tượng này vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của đối tượng kia, và ngược lại.

VD: “một số chia hết cho 3 thì tổng các chữ số của nó chia hết cho 3” và “tổng các cữ số của một số chia hết cho 3 thì số đó chia hết cho”

công thức tổng quát: a <=> b = [(a=>b) ^ (b=>a)

cấu trúc logic: nếu và chỉ nếu, khi và chỉ khi...

Phán đoán tương đương đúng khi phán đoán thành phần cùng đúng hoặc cùng sai, và sai khi các phán đoán thành phần không cùng giá trị logic.

+ Phán đoán phủ định: là phán đoán phức phản ánh sự không tồn tại của đối tượng của phẩm chất đang xét. nếu phán đoán thành phần là “a” thì phán đoán phủ định là “không thể có a”.

VD: “không phải Nam là sinh viên” và “Nam không phải là sinh viên”

Công thức ổng quát:   7a

Cấu trúc logic: không thể, không có chuyện là, làm gì có thể...

phán đoán phủ định luôn có giá trị logic đối lập với giá trị của logic cho trước

Câu 8: Nội dung, yêu cầu của quy luật đồng nhất? quy luật mâu thuẫn? quy luật bài trung? quy luật lý do đầy đủ?

TL:

- nội dung, yêu cầu của luật thống nhất: trong quá trình suy nghĩ, lập luận, thì tư tưởng phải là xác định, một nghĩa, luôn đồng nhất với chính nó.

Luật đòng nhất trở thành quy tắc cho từng ý nghĩ, một ý nghĩ không thể vừa là nó vừa không phải là nó. Nó phải đồng nhất với nó về mặt giá trị logic. Luật đồng nhất yêu cầu khi phản ánh về một đối tượng ở một phẩm chất xác định, khi đối tượng tồn tại với tư cách là nó thì tư duy không được tùy tiện thay đổi đối tượng phản ánh, không được thay đổi nội dung của tư tưởng hay đánh tráo ngôn từ diễn đạt tư tưởng. Chính điều nayftheer hiện tính xác định và nhất quán của tư tưởng khi phản ánh về đối tượng xác định. Có thể phân tích sự tác động luạt đồng nhất trong tư duy qua các yêu cầu sau:

+ Có sự đồng nhất của tư duy với đối tượng về mặt phản ánh. Tức là trong lập luận về một đối tượng xác định nào đó, tư duy phản ánh về nó với chính những nội dung xác định đó.

+ Phải có sự đồng nhất giữa tư tưởng với ngôn ngữ diễn đạt nó. Cơ sở khách quan của yêu cầu này là mối liên hệ giữa tư duy và ngôn ngữ diễn đạt

- nội dung, yêu cầu của quy luật mâu thuẫn: Mâu thuẫn logic là hiện tượng của tư duy, khi nêu ra hai phán đoán loại trừ nhau về một đối tượng được xét trong cùng một thời gian và cùng một quan hệ. Mâu thuẫn logic làm lộ ra quy luật: hai phán đoán đối lập hoặc mâu thuẫn nhau về một đối tượng, được xét trong cùng một thời gian, cùng một quan hệ, không thể cùng chân thực, ít nhất 1 trong chúng giả dối.

Yêu cầu của quy luật mâu thuẫn:

+ không được có mâu thuẫn trực tiếp trong lập luận khi khẳng định một đối tượng và đồng thời lại phủ định ngay chính nó

+ không được có mâu thuẫn gián tiếp trong tư duy, tức là khẳng định đối tượng, nhưng lại phủ định hệ quả tất suy từ nó.

- Nội dung luật bài trung: Hai phán đoán mâu thuẫn nhau về cùng một đối tượng được khảo cứu trong cùng một thời gian và trong cùng một quan hệ, không thể đồng thời giả dối, một trong chúng nhất định phải chân thực, cái còn lại phải giả dối, không có trường hợp thứ 3.

Luật bài chung yêu cầu phải lựa chọn một trong 2 theo nguyên tắc “hoặc là, hoặc là”. Điều đó có nghĩa là: trong việc giải quyết vấn đề mang tính giải pháp thì không được lẳng tránh câu trả lời xác định; không thể tìm cái gì đó trung gian, đứng giữa, thứ 3.

- Nội dung luật lý do đầy đủ: mọi tư tưởng đã định hình được coi là chân thực nếu như đã rõ toàn bộ những cơ sở đầy đủ cho phép xác minh hay chứng minh tính chân thực ấy. Luật lý do đầy đủ là kết quả khái quát thực tiễn suy luận. luật này biểu thị quan hệ của những tư tưởng chân thực với những tư tưởng khác, quan hệ kéo theo logic, xét đến cùng, là đảm bảo sự tương thích của chúng với hiên thực.

Luật lý do đầy đủ đặt cho tư duy những yêu cầu sau: mọi tư tưởng chân thực đều phải được luận chứng hay không được công nhận một tư tưởng là chân thực nếu như chưa có một cơ sở đầy đủ cho việc công nhận ấy.

 

Câu 9: suy luận là gì? kết cấu logic của một phép suy luận diễn dịch và suy luận quy nạp?

TL:

- Suy luận là hình thức tư duy phản ánh những mối liên hệ phức tạp hơn (so với phán đoán) của hiện thực khách quan. Về thực chất suy luận là thao tác logic mà nhờ đó tri thức mới được rút ra từ những tri thức đã biết.

Từ khoá: Phao

Blog trước: I_ Love _ Thanh hóa :))
Bình luận | Thích 0  lượt xem | 0  lời bình

Bạn hãy đăng nhập để viết lời bình cho bài Blog này.



6
Tổng số blog: 9

Danh Sách Blog